Ứng dụng kinh kim cang như một liệu pháp trong tham vấn và trị liệu tâm lý

Thứ hai - 25/01/2016 22:20
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và ứng dụng Kinh Kim Cang trong hoạt động tham vấn và trị liệu tâm lý cho những thân chủ có tâm bệnh, tác giả nhận thấy, sau khi được điều trị bằng liệu pháp này, thân chủ đã có những biến đổi khá tích cực, giải quyết vấn đề tận gốc và khả năng tái phát rất ít. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày Kinh Kim Cang như một liệu pháp tâm lý dùng để điều trị tâm bệnh cho con người và tạm gọi là LIỆU PHÁP AN TRỤ VÀ HÀNG PHỤC TÂM mà bản thân tác giả đã lĩnh hội và ứng dụng thành công. Nếu quý vị muốn nghiên cứu bộ kinh này, vui lòng tải tài liệu từ đây.  
Description: Read More
 1. Khái lược về Kinh Kim Cang và nguyên lý nảy sinh tâm bệnh theo Kinh Kim Cang
1.1.  Khái lược về Kinh Kim Cang
Kinh Kim Cang hay còn được gọi là kinh Kim Cương do đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết bằng tiếng Phạn. Về sau, kinh Kim Cang được truyền qua Trung Quốc và được phiên dịch sang chữ Hán. Kinh Kim Cang được nhiều học giả nghiên cứu và phiên dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt như: hòa thượng Thích Trí Tịnh, hòa thượng Thích Thiện Hoa, thượng tọa Huệ Hưng… Trong các bản dịch sang tiếng Việt, bản dịch và giảng giải của hòa thượng Thích Thanh Từ giúp người đọc dễ lĩnh hội tinh thần của kinh Kim Cang nhất.
Kinh Kim Cang có tên đầy đủ là Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật. Kim Cang là chất cứng và có thể phá hoại các thứ khác mà các loại khác không thể phá lại nó. Bát-nhã là trí tuệ, loại trí tuệ này trong nhà Phật giúp con người thấu rõ chính xác bản chất của tất cả các sự vật, hiện tượng. Ba-la-mật có nghĩa là “đến bờ giải thoát” hay “giải quyết tận gốc rễ vấn đề”. Như vậy, người có trí bát-nhã là người thấy đúng lẽ thật, thấy đúng bản chất của sự vật, hiện tượng từ đó dẹp tan được mê lầm chấp trước để giải thoát thân và tâm. Trong bộ kinh này, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã trình bày rất nhiều vấn đề, tuy nhiên phương pháp an trụ tâm và hàng phục tâm là những nội dung mà nhà tham vấn/nhà trị liệu tâm lý và chuyên gia chăm sóc sức khỏe tinh thần nên nghiên cứu, tìm hiểu.

1.2. Nguyên lý nảy sinh tâm bệnh theo Kinh Kim Cang
Theo quan điểm chung của Phật giáo, nguyên nhân chính dẫn đến tâm bệnh (khổ) là do vô minh. Vô minh là không sáng suốt, không hiểu rõ bản chất vấn đề, không thấy đúng lẽ thật. Tư tưởng này cũng thể hiện rõ trong Kinh Kim Cang. Theo Kinh Kim Cang, tâm bệnh phát sinh là do chúng ta không an trụ và hàng phục được tâm mình. Vì thế, đức Phật đã hướng dẫn phương pháp an trụ và hàng phục tâm để điều trị tâm bệnh.
Phương pháp hàng phục tâm
 
Theo đức Phật, khi tiếp xúc với cảnh vật, với người hoặc với vật thì niệm (ý nghĩ) trong tâm trí chúng ta sẽ phát sinh. Mỗi một niệm (ý nghĩ) trong tâm xuất hiện, chúng ta liền biết nó giả chứ không thật và ý nghĩ đó liền lắng xuống. Tại sao lại là giả mà không phải là thật? Muốn hiểu rõ vấn đề này, chúng ta cần phải tìm hiểu triết lý nhân duyên trong Phật giáo.
Theo thuyết nhân duyên, vạn vật là do duyên sanh và cũng là do duyên diệt. Khi hội đủ các duyên thì hình thành nên sự vật, hiện tượng, con người và cả vũ trụ này. Khi hết duyên rồi thì tan rã trở về với cát bụi vô thường. Ví dụ: Muốn có cái bàn thì phải có gỗ, có đinh, có tác động cưa, đục, đẽo, đóng, ráp của người thợ mộc để tạo thành các bộ phận của cái bàn, lắp chúng lại với nhau mới hình thành cái bàn. Sự kết hợp này được gọi là “duyên sanh”. Nhờ các duyên hội đủ mà có cái gọi là “cái bàn”. Khi các bộ phận của cái bàn đã hư hoại không còn hình tướng là cái bàn nữa đó là duyên diệt.

Con người chúng ta cũng vậy, theo lý nhân duyên, con người chúng ta bản chất là do 4 yếu tố chính (tứ đại) hợp thành (đất, nước, gió, lửa). Yếu tố đất: thịt, xương, các bộ phận trên cơ thể; nước: máu huyết, nước tiểu…; gió: hơi thở; lửa: hơi ấm của nhiệt độ cơ thể. Nếu các yếu tố này duyên với nhau sẽ hình thành sự sống. Nếu một trong 4 yếu tố này không còn (duyên diệt) thì sự sống không còn, con người cũng trở thành cát bụi. Như vậy, sự sống của con người cũng như vạn vật trong vũ trụ có bản chất là do duyên sanh chứ chúng đâu có thực có. Cái có đó chỉ là tạm bợ trong một khoảng thời gian nhờ duyên thôi, vậy mà chúng ta chấp thân này là có thật. Chấp thân này là có thật nên những lời nói và hành động của người khác đối xử với chúng ta chúng ta cũng xem là thật nên chúng ta đau khổ, buồn bã, giận, hờn, thương, ghét… Tư tưởng “sắc tức thì không, không tức thị sắc” trong Kinh Bát Nhã chính là ở chỗ này.

Người hiểu và hành trì Kinh Kim Cang thì phải nhận thức cái thân xác của mình là tạm có do nhân duyên chứ không phải thực có nên không thể tồn tại vĩnh viễn được. Cái thân này còn không thật có thì những lời nói, hành vi của người khác với mình thì cũng chỉ là đồ giả hơi đâu mà chấp, hơi sức đâu mà bận tâm. Làm được như thế thì chúng ta đã dần hàng phục được tâm mình.

1.3. An trụ tâm
Theo đức Phật, tâm chúng ta loạn động, chúng ta đau khổ là vì bị dính với 6 yếu tố (nhà Phật gọi là 6 trần): màu sắc/hình dáng (sắc); âm thanh (thanh); mùi hương (hương); mùi vị (vị); cảm giác: cứng mềm, nóng, lạnh (xúc); những hình ảnh, màu sắc, hương vị, cảm giác được lưu lại từ 5 loại trên (pháp). Chúng ta không trụ được tâm là vì tâm chúng ta dính mắc với 6 yếu tố này. Vì vậy, muốn an trụ tâm thì chúng ta phải buông xã, không dính mắc tới sáu yếu tố này nữa. Bởi vì, 6 yếu tố này cũng như thân chúng ta và vạn vật trong vụ trụ đều là không thật có. Có nghĩa là, ai chửi chúng ta chúng ta không thèm chấp vào những lời chửi mắng đó (không trụ nơi thanh) vì chúng ta đã hiểu được bản chất của tất cả các sự vật hiện tượng trong vụ trụ này là do nhân duyên. Cái thân của người đó còn không thật thì những lời chửi bới đó đâu có thật, không có thật thì chấp làm chi, buồn giận làm chi? Như vậy, không trụ tức là trụ (không dính mắc với 6 yếu tố trên) tức là chúng ta đã an trụ được tâm mình.

2. Phương pháp tham vấn và trị liệu tâm lý theo liệu pháp An trụ và hàng phục tâm
Tiến trình tham vấn và trị liệu tâm lý theo Liệu pháp An trụ và hàng phục tâm được tiến hành theo các bước sau:
2.1. Thiết lập mối quan hệ tin cậy trong tham vấn/trị liệu tâm lý
Đây là giai đoạn khá quan trọng trong nhiều liệu pháp. Nhà tham vấn/trị liệu cần thiết lập mối quan hệ hỗ trợ tin cậy theo đúng nghĩa của nó và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức hành nghề. Mối quan hệ tin cậy được thiết lập có tác dụng tăng niềm tin và làm giảm tính phòng vệ của thân chủ. Điều này có tác dụng không nhỏ đến kết quả tham vấn/trị liệu.

2.2. Giải tỏa cảm xúc tiêu cực
Thân chủ khi gặp khó khăn thường bị ức chế về cảm xúc. Một khi cảm xúc bị ức chế sẽ làm cho khả năng nhận thức và điều chỉnh nhận thức bị hạn chế. Một ly nước đã đầy thì dù bạn có rót cỡ nào đi chăng nữa thì nước vẫn tràn ra khỏi ly và chảy lênh láng. Vì thế, muốn rót nước vào ly, bạn phải lấy bớt nước trong ly ra ngoài.

Vì thế, nhà tham vấn/trị liệu cần phải giải tỏa cảm xúc cho thân chủ trước để tiến trình tham vấn/trị liệu diễn ra thuận lợi và đạt được nhiều thành tựu. Để làm được việc này, nhà tham vấn trị liệu có thể dùng kỹ thuật trò chuyện không định hướng trong tham vấn/trị liệu theo trường phái Thân chủ trọng tâm của Carl Rogers hoặc kỹ thuật chiếc ghế trống của liệu pháp Gestalt hoặc là kỹ năng bày tỏ cảm xúc.

2.3. Giúp thân chủ hiểu rõ triết lý nhân duyên
Sau khi đã thiết lập được mối quan hệ tin cậy và giải tỏa cảm xúc tiêu cực cho thân chủ. Nhà tham vấn trị liệu bắt đầu công việc giúp thân chủ nhận thức về triết lý nhân duyên của Phật giáo. Mục tiêu chính ở giai đoạn này là thân chủ phải nhận thức được rằng, vạn vật trong vũ trụ, kể cả con người chúng ta là không thật có mà đó chỉ là sự tồn tại do nhân duyên nên chỉ mang tính chất tạm bợ và không thể tồn tại vĩnh viễn được.
Đây là giai đoạn tốn khá nhiều thời gian trong tiến trình tham vấn/trị liệu. Bởi vì, quan niệm của thế gian, cái gì vốn hữu hình là thật có. Vậy mà nhà tham vấn/nhà trị liệu phải giúp thân chủ suy nghĩ ngược lại quan niệm này. Đây cũng là một trong những lý do tại sao sau khi đức Phật thành đạo ngài chỉ ngồi tại gốc cây mà không đi thuyết pháp độ sanh. Bởi vì ngài nhận thấy rằng, chúng sanh bị yếu tố vô minh che lấp trí tuệ nên đau khổ và muốn thay đổi là điều này là việc làm không phải dễ. Trong giai đoạn này, nhà tham vấn/nhà trị liệu cần gợi mở và dẫn chứng những ví dụ cho thân chủ nhận thức vấn đề. Ở giai đoạn này, nếu thành công, thân chủ sẽ có sự thay đổi đáng kể trong nội tâm.
Đây là một thay đổi rất lớn trong nội tâm vì thế, cảm giác bất an, lo lắng của thân chủ sẽ xuất hiện. Sự khuyến khích và động viên của nhà tham vấn/nhà trị liệu trong giai đoạn này là rất cần thiết. Giai đoạn này có thể kéo dài tối thiểu từ 4-9 phiên/buổi tham vấn/trị liệu.

2.4. Đưa triết lý nhân duyên vào việc nhìn nhận vấn đề khó khăn mà thân chủ đang gặp phải
Sau khi thân chủ đã nhận thức đầy đủ, hiểu khá nhiều về triết lý nhân duyên. Nhà tham vấn/nhà trị liệu dùng triết lý này giúp thân chủ nhìn lại bản thân mình, vấn đề khó khăn mình đang gặp phải để tìm ra nguyên nhân phát sinh vấn đề. Mục tiêu của giai đoạn này là giúp thân chủ nhận thức được rằng mình không an trụ và hàng phục được tâm của chính mình bởi vì thân chủ vẫn còn chấp “có” và thân chủ còn dính mắc với 6 yếu tố như đã đề cập ở trên (lục trần). Thân chủ sẽ khám phá được căn nguyên của khó khăn mình đang gặp phải và cách thay đổi nó để giải quyết vấn đề.

2.5. Hướng dẫn thân chủ thực hành phương pháp an trụ và hàng phục tâm
Đến giai đoạn này, nhà tham vấn/nhà trị liệu hướng dẫn và giải thích cách thức thực hiện biện pháp an trụ và hàng phục tâm. Thực hành phương pháp này trong cuộc sống thường nhật trong một khoảng thời gian để hình thành thói quen mới trong suy nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề trong cuộc sống.

2.6. Lượng giá và kết thúc tiến trình tham vấn/trị liệu tâm lý
Đây là bước cuối cùng trong tiến trình tham vấn/trị liệu tâm lý theo liệu pháp này. Ở giai đoạn này, nhà tham vấn/nhà trị liệu giúp thân chủ nhận thức tiến trình đã trải qua, từ nhu cầu ban đầu của thân chủ và kết quả ở hiện tại, chúc mừng những thành công của thân chủ và tái cam kết hỗ trợ và nâng đỡ thân chủ khi vấn đề tái phát.

3. Hạn chế của liệu pháp An trụ và hàng phục tâm
Như đã trình bày ở trên, liệu pháp An trụ và hàng phục tâm được đúc kết từ Kinh Kim Cang-một bộ kinh khá nổi tiếng của Phật giáo. Vì thế, liệu pháp này sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể cho những thân chủ là Phật tử (người theo đạo Phật) và cả những thân chủ theo chủ nghĩa vô thần. Tuy nhiên, với những thân chủ thuộc tôn giáo khác có tư duy kỳ thị tôn giáo thì rất khó hoặc không thể dùng được. Nếu dùng liệu pháp này cho thân chủ có tư tưởng kỳ thị tôn giáo, thân chủ đó sẽ khó tiếp nhận và sẽ bị “dội”. Tiến trình tham vấn/trị liệu có nguy cơ bị gián đoạn. Nhà tham vấn/nhà trị liệu cũng phải là người có am hiểu về kiến thức Phật học và sống được với tinh thần của Kinh Kim Cang.

4. Kết luận
 Chúng ta không bàn nhiều đến khía cạnh tôn giáo của Kinh Kim Cang trong liệu pháp này. Là một nhà khoa học, một người làm công tác tham vấn và trị liệu tâm lý, chúng ta cần phải tìm kiếm những phương pháp tác động tích cực từ các liệu pháp khác nhau nhằm hỗ trợ và nâng đỡ cho tiến trình phục hồi và giải quyết khó khăn (tâm bệnh) của thân chủ. Trên đây là kết quả bước đầu trong việc ứng dụng liệu pháp An trụ và hàng phục tâm trong công tác tham vấn/trị liệu tâm lý của tác giả xin được chia sẻ với những ai quan tâm đến lĩnh vực tham vấn và trị liệu tâm lý. Tác giả rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ các nhà chuyên môn, các nhà tham vấn/nhà trị liệu tâm lý và các bậc thiện hữu tri thức để liệu pháp này ngày càng hoàn thiện hơn.

Tác giả bài viết: ThS Ngô Minh Duy

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây